Góp ý đổi mới nghiên cứu khoa học nông nghiệp: Đổi mới tư duy nghiên cứu

Đọc bức thư ngỏ của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan, cũng như được lắng nghe ông trong buổi làm việc với các viện nghiên cứu thuộc hệ thống Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, cán bộ nghiên cứu như chúng tôi thật vinh dự vì cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc của một vị lãnh đạo ngành nông nghiệp.

Tâm tư chung của cán bộ nghiên cứu sau buổi làm việc là như cởi được tấm lòng và có suy nghĩ vô cùng tích cực về tương lai của lĩnh vực nghiên cứu phát triển nông nghiệp và nông thôn. Chúng tôi cũng nhận thức được rằng tương lai ấy có sáng lạn hay không là không chỉ phụ thuộc vào cơ chế chính sách của nhà nước mà còn trách nhiệm rất quan trọng của mỗi cá nhân cán bộ nghiên cứu.

PGS.TS Đào Thế Anh, Phó GĐ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

PGS.TS Đào Thế Anh, Phó GĐ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp vượt khó thế nào

Đóng góp của KHCN cho phát triển nông nghiệp và nông thôn đã được khẳng định ở việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng dương trong nông nghiệp và xuất khẩu nông sản trong một thời gian dài. Các đơn vị nghiên cứu nông nghiệp của Việt Nam đã luôn đồng hành cùng nhà nước trong việc chỉ đạo sản xuất, giải quyết các vấn đề về dịch bệnh, BĐKH và thị trường. Tuy nhiên, đầu tư của nhà nước cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ ở nước ta còn thấp, chưa tới ngưỡng nên khó tạo ra được sản phẩm KHCN mang tính đột phá.

Nếu so sánh với quốc tế, kinh phí năm 2010 của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) là 57 triệu USD thì năm 2018, tổng kinh phí KHCN, khuyến nông và đầu tư cho phát triển của Bộ NN-PTNT chỉ khoảng gần 1.250 tỷ đồng/năm, tương đương hơn 54 triệu USD. Theo đánh giá của Viện chính sách lương thực thế giới (IFPRI) thì Việt Nam mới chỉ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ngành nông nghiệp tương đương 0,2% GDP nông nghiệp, trong khi đó ở Braxin là 1,8% và Trung Quốc là 0,5%. Nếu đầu tư đúng mức thì Việt Nam cần đạt mức 0,86% của GDP nông nghiệp, tức là hơn 4 lần so với mức đầu tư hiện nay.

Mức đầu tư cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu cơ bản thấp, nhưng lại dàn trải cho nhiều cơ quan và không có đầu tư kinh phí duy trì vận hành, vì vậy hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm còn lãng phí. Một số đơn vị đã có sáng kiến sử dụng chung các phòng thí nghiệm nhưng lại gặp phải rào cản về chi phí tài chính. Với mức đầu tư không tới tầm như vậy nên chất lượng của nhiều sản phẩm nghiên cứu của tiến bộ kỹ thuật chưa đạt yêu cầu của sản xuất, mức độ lan tỏa còn thấp. Hơn nữa yêu cầu của sản xuất ngày càng đa dạng về công nghệ và về phương thức quản trị mà năng lực của hệ thống nghiên cứu thiếu cơ chế để bắt kịp, do vậy còn khoảng trống khá lớn giữa nhu cầu và cung ứng KHCN nông nghiệp.

Công nghệ thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu cho các đơn vị nghiên cứu nhờ khả năng kết nối và lan tỏa mạnh trong cộng đồng. Với cách làm này các kết quả nghiên cứu được ứng dụng với tỷ lệ cao hơn, tạo ra môi trường nghiên cứu tốt, tạo cảm hứng nghiên cứu cho cán bộ trẻ và hạn chế được tình trạng chảy máu chất xám.

Với số đề tài nghiên cứu hạn chế nên không đủ cho tất cả các cán bộ nghiên cứu tham gia, đặc biệt một số cán bộ được đào tạo bài bản ở trong và ngoài nước, đam mê nghiên cứu nhưng không được tham gia nên chuyển ra ngoài làm. Có thể nói đây là hạn chế lớn nhất vì, nói cho cùng đối với cán bộ đã chọn nghề nghiên cứu thì xác định không phải để làm giàu mà là kết quả nghiên cứu của mình được sử dụng, được công bố. Khoa học nông nghiệp là một khoa học có tính ứng dụng cao, vì vậy kết quả được sản xuất chấp nhận và lan tỏa là yếu tố tạo cảm hứng nghiên cứu đầu tiên. Bên cạnh đó thì chênh lệch mức lương so với thị trường cũng là vấn dề, tuy vậy nếu cán bộ nghiên cứu được tham gia đề tài thì cũng có phần thu nhập thêm có thể sống được.

Trong điều kiện đó một số đơn vị nghiên cứu như Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Hệ thống nông nghiệp đã có tiếp cận mở rộng (kinh tế, thị trường) và năng động trong việc tiếp cận nhu cầu của địa phương, các doanh nghiệp và HTX. Đơn vị xác định là để có nhiều đề tài có tính ứng dụng cao, tạo điều kiện tham gia nghiên cứu cho tất cả các cán bộ thì cần phải tìm hiểu, bám sát nhu cầu của sản xuất và thị trường, trên cơ sở đó đa dạng các nguồn kinh phí cho nghiên cứu phát triển bao gồm các đề tài ngân sách nhà nước cấp trung ương và đặc biệt là cấp địa phương (tỉnh, huyện), hợp tác quốc tế, dịch vụ chuyển giao KHCN, tư vấn phát triển NN và NT.

Như vậy là đã phần nào thể hiện được tư duy kinh tế nông nghiệp đối với cán bộ nghiên cứu là phải định hướng nghiên cứu theo yêu cầu của sản xuất, của thị trường thông qua đặt hàng của nhà nước, của doanh nghiệp, hay của nông dân. Hơn nữa các vấn đề của sản xuất, của phát triển thường có yêu cầu liên ngành, vì vậy để tìm được giải pháp phù hợp thì cần thành lập các nhóm nghiên cứu liên ngành kết hợp KHCN và kinh tế xã hội, giải quyết vấn đề đồng bộ theo chuỗi giá trị từ sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ đến sản phẩm hoàn thiện cuối cùng. Đơn vị có cơ chế “bảo hành” đối với các kết quả chuyển giao bằng cách duy trì hệ thống tư vấn từ xa với các HTX, THT, DN đã nhận chuyển giao, coi họ như một đối tác phát triển nhờ vào các hệ thống mạng xã hội. Thông qua hệ thống này có thể đánh giá được tác động của công tác chuyển giao KHCN cho sản xuất.

Cán bộ Viện Di truyền nông nghiệp nghiên cứu trên các thiết bị hiện đại. Ảnh: Tùng Đinh.

Cán bộ Viện Di truyền nông nghiệp nghiên cứu trên các thiết bị hiện đại. Ảnh: Tùng Đinh.

Thay đổi tư duy nghiên cứu

Trong thời gian tới, về chính sách vỹ mô thì Nghị định 60/2021 của Chính phủ về việc quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập đi vào thực hiện sẽ thúc đẩy các đơn vị nghiên cứu tự chủ hơn về tài chính theo hướng gần với doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN). Như vậy các đơn vị này sẽ có hai phần chính là thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu được nhà nước đặt hàng thông qua cơ chế giao nhiệm vụ và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chuyển giao theo hợp đồng với địa phương, doanh nghiệp, HTX, tổ chức tài trợ…

Để cải thiện hiệu quả và chất lượng chuyển giao KHCN nông nghiệp, các đơn vị nghiên cứu cần hình thành các bộ phận marketing về KHCN, thực hiện trước hết là chức năng nắm bắt nhu cầu KHCN của sản xuất và thị trường để định hướng nghiên cứu; thứ hai là giới thiệu chuyển giao các tiến bộ KHCN và quản trị; thứ ba là tư vấn chăm sóc khách hàng sau khi chuyển giao. Các chức năng trên là để đơn vị tự chuyển giao trực tiếp.

Để cụ thể hóa, đề xuất một số giải pháp:

Xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao theo đặt hàng của HTX, DN nhỏ và vừa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Hàng năm Viện KHNN Việt Nam sẽ thông báo nhu cầu đặt hàng nghiên cứu, tư vấn đến các tỉnh và các HTX, DN trong cả nước theo vùng sinh thái, từ đó sẽ cùng chọn lọc và đề xuất các đề tài, dự án có ý nghĩa thực tiễn, ứng dụng cao để trình lên Bộ NN-PTNT. Viện mạnh dạn đề xuất Bộ và Chính phủ cho phép Viện xây dựng ra một Quỹ nghiên cứu ứng dụng KHCN và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái các HTX, DN đầu tư vào nông nghiệp và PTNT. Quỹ này nhằm mục tiêu hỗ trợ cả 3 chương trình mục tiêu quốc gia là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội giai đoạn 2021 – 2025 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025. Bên cạnh đó Viện sẽ thu hút thêm các nguồn đầu tư hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, HTX cùng đầu tư hỗ trợ vào quỹ này.

Hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành theo chuỗi giá trị: Để đáp ứng được sự mong đợi của các DN, HTX là có các gói giải pháp KHCN và thể chế quản trị tổng thể theo chuỗi giá trị, các đơn vị nghiên cứu cần tổ chức thành các nhóm liên ngành theo chuỗi sản phẩm, tăng cường hợp tác của chuyên gia ở các bộ môn, đơn vị khác nhau. Các đề tài đặt hàng của nhà nước cũng nên giao theo nhóm chuỗi giá trị. Đây chính là cơ sở để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuỗi, trong mỗi nhóm có các nhà khoa học đầu ngành hay các nhà khoa học trẻ có năng lực chủ trì; là cách để đào tạo được các nhà khoa học có trình độ cao. Nhà nước nên hình thành các chương trình nghiên cứu đối với các cây trồng chủ lực để đảm bảo tính đồng bộ theo chuỗi giá trị.

Giải pháp thị trường KHCN cần được hình thành với đầy đủ thể chế để vận hành đảm bảo công tác tự chủ. Trong 10 năm trở lại đây, mới có khoảng vài chục giống cây trồng mới do các Viện, Trường chọn tạo được chuyển giao cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung việc chuyển nhượng bản quyền công nghệ còn chậm phát triển, các lĩnh vực khác như quy trình công nghệ trong sản xuất, chế biến nông lâm sản và thủy sản, bản vẽ, thiết kế máy nông nghiệp… hầu như chưa được chuyển nhượng trên thị trường KHCN.

Để sản phẩm khoa học công nghệ tham gia được vào thị trường thì sản phẩm KHCN đó cần đạt một số tiêu chí: i) Chất lượng và hàm lượng khoa học cao; ii) Đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, kinh doanh, có khả năng áp dụng vào sản xuất trên diện rộng; và iii) Mang lại lợi nhuận cho sản xuất, kinh doanh. Các thủ tục của thị trường khoa học công nghệ cũng cần được cải cách, tạo điều kiện cho các bên tiếp cận thuận tiện, nhanh chóng. Một số vướng mắc hiện nay cần được tháo gỡ ngay, như các thủ tục đăng ký bản quyền được đơn giản hóa; có chính sách bảo vệ bản quyền đối với những sản phẩm khoa học công nghệ, các sáng chế, đảm bảo quyền lợi cho những nhà sáng chế, nghiên cứu. Luật Sở hữu trí tuệ cần được thực hiện nghiêm đối với các sản phẩm KHCN là điều kiện tiên quyết để khuyến khích các nhà khoa học dựa trên cơ chế thị trường.

Giải pháp chuyển đổi số nông nghiệp: Nhà nước cần kết hợp với DN, thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin thông qua các cơ sở dữ liệu số về tiến bộ KHCN, các nền tảng số để dạng chia sẻ và truy cập đối với cộng đồng.

Bên trong khu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả. Ảnh: Tùng Đinh.

Bên trong khu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả. Ảnh: Tùng Đinh.

Nâng năng lực khoa học công nghệ

Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho hệ thống các đơn vị nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT của Việt Nam đạt mức tương đương với các nước trong khu vực, phấn đấu đạt mức 0,5% GDP nông nghiệp.

Chính phủ có thể áp dụng cơ chế đầu tư dựa trên kết quả đóng góp của KHCN vào sản xuất và xuất khẩu nông sản như trích 0,5% kim ngạch xuất khẩu để đầu tư lại cho khoa học công nghệ nông nghiệp. Như vậy, với trên 40 tỉ USD xuất khẩu nông sản, chúng ta có khoảng 200 triệu USD đầu tư lại cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: sắp xếp theo hướng đầu tư nghiên cứu cơ bản tập trung, không chồng chéo về chức năng, nghiên cứu ứng dụng liên kết với thị trường và chuyển giao phát triển ở hệ thống các Viện vùng. Nhà nước cần hỗ trợ Viện KHNN Việt Nam đầu tư nâng cấp đồng bộ về trang thiết bị và cơ sở hạ tầng để hình thành 3 phòng thí nghiệm hiện đại tại 3 vùng, hoạt động theo mô hình trung tâm xuất sắc. Trong hệ thống nghiên cứu, có thể sáp nhập một số đơn vị có chức năng trùng nhau nhưng cũng cần mạnh dạn thành lập các đơn vị mới có chức năng liên ngành, hệ thống, phù hợp với yêu cầu của sản xuất và thị trường hiện nay như nghiên cứu về chuỗi giá trị và thị trường. Hệ thống nghiên cứu cần hợp tác chặt chẽ với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia để phổ biến kết quả nghiên cứu và có đánh giá tác động của công tác chuyển giao KHCN. Thúc đẩy liên kết với các doanh nghiệp để đồng đầu tư nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp.

Về cơ chế sử dụng đất và tài sản công, nhà nước cần cho phép các đơn vị sự nghiệp công tự chủ được sử dụng đất công để vốn hóa phục vụ công tác nghiên cứu KHCN nông nghiệp theo đề án được phê duyệt.

Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý khoa học công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân làm khoa học công nghệ phát huy tối đa tính sáng tạo, chủ động, tinh thần trách nhiệm đối với kết quả cuối cùng. Nhà nước nên chuyển trọng tâm từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả đầu ra và hiệu quả của sản phẩm KHCN được ứng dụng vào sản xuất.

Thực hiện triệt để hơn các cơ chế khoán tài chính trong khoa học công nghệ để cải tiến các thủ tục, không biến người làm khoa học công nghệ thành nhân viên hành chính, phải mất nhiều thời gian cho các thủ tục rườm rà, nhất là các quy định về tài chính cũng như các thủ tục hành chính về thay đổi trong thuyết minh đã được phê duyệt trong quá trình thực hiện các đề tài KHCN. Có chính sách khuyến khích các đơn vị tự huy động nguồn vốn, đầu tư trước, nhà nước hỗ trợ sau dựa trên sản phẩm cụ thể.

 

Phó GĐ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments